Nằm trong khoảng:
-Vĩ độ: 70oB-55oN
-Kinh độ: 35oT-163oT
Điểm:
Cực bắc:71o50'B (không kể đảo)
83o30'B (kể cả đảo)
Cực nam: 54o55'N
Châu Mỹ rộng 42 triệu km², nắm hoàn toàn ở bán cầu Tây. So với các châu lục khác, châu Mĩ nằm trải dài trên nhiều vĩ độ hơn cả, từ vùng cực Bắc đến tận vùng cận cực Nam. Nơi hẹp nhẩn của châu Mỹ là
eo đất Panama rộng không đến 50 km.
Kênh đào Panama đã cắt qua
eo đất này, nối liền
Thái Bình Dương &
Đại Tây Dừơng Châu Mỹ trải rộng trên 2 lục địa: lục địa Bắc Mỹ và Nam Mỹ.
-
Trong tác phẩm "
Luận thuyết thứ hai về chính quyền dân sự",
John Locke đã viết "Ở thời kỳ khởi đầu thì cả thế giới đều như châu Mỹ". Locke đã dùng phép ẩn dụ nêu trên chỉ để miêu tả một xã hội tự nhiên từng tồn tại trước khi xuất hiện một xã hội công dân. Tuy nhiên lối nói ẩn dụ của ông còn gợi lên một hình ảnh của một châu Mỹ lần đầu tiên được người châu Âu phát hiện.
Các chi tiết về việc những người Indien cổ đã di cư đến và tỏa ra khắp châu Mỹ vào khoảng thời gian và bằng tuyến đường nào vẫn còn là chủ đề tranh luận.
[1] Các lý thuyết truyền thống cho rằng những người này đã đến châu Mỹ bằng
cầu lục địa Beringia giữa đông
Siberi và
Alaska ngày nay vào khoảng từ 40.000–17.000 năm trước,
[2] khi mực nước biển bị giám xuống đáng kể do ảnh hưởng của kỷ băng hà Đệ tứ.
[1][3] Những người này được cho là đã đi theo các loài động vật cực to lớn mà nay đã tuyệt chủng theo các
hành lang không bị đóng băng kéo dài giữa các phiến băng Laurentide và Cordillera.
[4] và rồi họ tiếp tục đi bộ hoặc sử dụng các tàu thuyền nguyên sơ để di cư từ
Tây Bắc Thái Bình Dương (phía tây Bắc Mỹ) đến bờ biển Nam Mỹ.
[5] Bằng chứng của sự kiện về sau có được khi mực nước biển dâng lên hàng trăn mét sau kỉ băng hà cuối cùng.
[6]
Các nhà khảo cổ cho rằng những người Indien cổ đã di cư ra khỏi Beringia (Đông Alaska), đến một nơi nào đó trong khoảng từ 40.000 đến 16.500 năm trước.
[7][8][9]Một vài đồng thuận đạt được cho đến nay là những người này có nguồn gốc từ
Trung Á, và đã cư trú rộng rãi ở châu Mỹ vào cuối của kỷ băng hà cuối cùng, khoảng 16.000–13.000 năm trước.
[9][10]
Người
Inuit di cư đến phần
Bắc Cực của Bắc Mỹ theo một làn sóng di cư khác, và họ đến vào khoảng năm 1000 SCN.
[11] Cùng với thời điểm người Inuit di cư đến Bắc Mỹ, những người định cư
Viking bắt đầu tới
Greenland vào năm 982 và
Vinland một thời gian ngắn sau đó,lập nên một khu định cư tại
L'Anse aux Meadows, gần điểm cực bắc của
Newfoundland.
[12] Những người định cư Viking nhanh chóng rời bỏ Vinland, và biến mất khỏi Greenland vào năm 1500.
[13]
-
Parkin tại Arkansas, khoảng 1539. Herb Roe minh họa.
Thời kỳ tiền Colombo bao gồm tất cả các phân tầng thời gian của lịch sử châu Mỹ trước khi sự xuất hiện của người châu Âu gây nên ảnh hưởng đáng kể cho châu lục, kéo dài từ thời từ các khu định cư Thượng Cổ đến thời kỳ thực dân châu Âu.
"Tiền Colombo" đặc biệt được sử dụng trong các ngữ cảnh để chỉ về nền văn minh bản địa lớn của châu Mỹ, như
Mesoamerica (
Olmec,
Toltec,
Teotihuacano,
Zapotec,
Mixtec,
Aztec,
Maya) và
Andes (
Inca,
Moche,
Muisca,
Cañaris).
Nhiều nền văn minh thời kỳ Tiền-Colombo được hình thành dựa trên các đặc điểm và dấu hiệu như các điểm định cư lâu dài hay đô thị,
nông nghiệp, các kiến trúc đô thị và tưởng niệm, cùng các hệ thống thứ bậc xã hội phức tạp. Một số nền văn minh từ lâu đời đã tàn phai khi những người châu Âu đầu tiên đến (cuối thế kỷ 15-đầu thế kỷ 16), và chỉ được biến đến thông qua
khảo cổ. Nhưng cũng có những nền văn minh và thời điểm đó. Một vài nền văn minh như Maya, có các tư liệu bằng chữ viết. Tuy nhiên, hầu hết những người châu Âu khi đó coi các văn bản này là dị giáo, và nhiều trong số đó đã bị tiêu hủy trên những giàn thiêu Thiên Chúa giáo. Chỉ còn một số ít tài liệu còn lại đến ngày nay, giúp cho các sử gia hiện đại có cái nhìn khái quát về văn hóa và các kiến thức cổ.
[14]
Theo cả các ghi chép của dân bản địa châu Mỹ và người châu Âu, các nền văn minh châu Mỹ vào thời điểm tiếp xúc với người Âu đã đạt được nhiều thành tựu ấn tượng. Chẳng hạn, người
Aztec đã xây dựng nên một trong những thành phố nguy nga nhất thế giới là
Tenochtitlan, tại nơi mà nay là
thành phố México, với dân số ước tính là 200.000 người. Các nền văn minh châu Mỹ cũng có những thành tựu ấn tượng về thiên văn học và toán học.
[15]
Quá trình thực dân hóa của người châu Âu đã bắt đầu ngay sau chuyến đi đầu tiên của
Cristoforo Colombo vào năm 1492. Điểm định cư đầu tiên của người Tây Ban Nha tại châu Mỹ là La Isabela ở miền bắc
Hispaniola. Đô thị này đã bị bỏ hoang sớm sau đó khi thành lập Santo Domingo de Guzmán năm 1496, thành phố cổ nhất do người châu Âu lập nên tại châu Mỹ. Nơi này trở thành căn cứ và từ đó chế độ quân chủ Tây Ban Nha quản lý các thuộc địa và mở rộng lãnh địa của mình. Trên lục địa,
thành phố Panama bên bờ biển Thái Bình Dương được hình thành vào ngày 5 tháng 8 năm 1519, đóng một vai trò quan trọng, và là cơ sở để thực dân Tây Ban Nha xâm chiếm Nam Mỹ. Theo nhà nhân chủng học R. Thornton, sự lây lan của các bệnh dịch mới do người châu Âu và châu Phi đem tới đã giết chết nhiều cư dân tại châu Mỹ,
[16][17][18] Người bản địa và thực dân châu Âu xảy ra xung đột trên diện rộng, kết quả dẫn đến điều mà
David Stannard gọi là một cuộc diệt chủng dân bản địa.
[19] Những người di cư châu Âu đầu tiên là một phần của nỗ lực cấp nhà nước nhằm thành lập các thuộc địa tại châu Mỹ. Những người di cư tiếp tục di cư đến châu Mỹ nhắm trốn tránh các cuộc đàn áp tôn giáo hoặc tìm kiếm cơ hội về kinh tế. Trong khi đó, hàng triệu người đã bị buộc đưa đến châu Mỹ với thân phận
nô lệ,
tù nhân hay lao động giao kèo.
Bản đồ thế giới của Waldseemüller, lần đầu tiên ghi tên châu Mỹ (America) vào năm 1507
Việc sử dụng lần đầu tiên cái tên
America cho vùng đất rộng lớn này được biết đến là vào ngày 25 tháng 4 năm 1507, và được sử dụng để chỉ nơi mà ngày nay là Nam Mỹ. Nó xuất hiện lần đầu tiên trên một bản đồ thế giới với 12 múi giờ, cùng với một bản đồ treo tường lớn nhất thực làm ra từ trước đến nay, cả hai đều do
người chuyên vẽ bản đồ người Đức là
Martin Waldseemüller vẽ tại
Saint-Dié-des-Vosges ở Pháp. Đây là bản đồ đầu tiên thể hiện châu Mỹ như là một vùng đất lớn tách biệt với châu Á. Một cuốn sách đi kèm,
Cosmographiae Introductio, vô danh những rõ ràng được viết bởi cộng tác viên của Waldseemüller là
Matthias Ringmann,
[20] đã thuật rằng, "Tôi không thấy bất kỳ một điều gì để phản đối việc gọi phần này [đại lục Nam Mỹ], theo Americus là người đã khám phá ra nó và ông là một người đàn ông thông minh, Amerigen, là Vùng đất của Americus, hay America: do cả châu Âu (Europa) và châu Á (Asia) đều mang tên có gốc từ một phụ nữ".
Americus Vespucius là tên gọi
Latinh hóa của nhà thám hiểm
Florentine tên là
Amerigo Vespucci, và
America là dạng giống cái của
Americus.
Amerigen được giải thích là
Amerigo cộng với
gen, tân cách trong tiếng Hi Lạp của từ 'Trái Đất', và có nghĩa là 'vùng đất của Amerigo'.
[20].
Amerigo là một từ tiếng Ý có gốc từ tiếng Latin cổ
Emericus.
[21]
Vespucci dường như đã không biết được việc tên của mình đã được dùng để đặt cho vùng đất mới, do bản đồ của Waldseemüller đã không được đưa đến Tây Ban Nha Spain cho đến vào năm sau khi ông mất.
[20] Ringmann may have been misled into crediting Vespucci khi cho đăng tải rộng rãi Bức thư Soderini, một phiên bản đã được biên tập từ một trong các bức thư thật của Vespucci ghi chép về việc vạch bản vẽ bờ biển Nam Mỹ, trong đó tán dương khám phá này và ngụ ý rằng ông công nhận Nam Mỹ là một lục địa tách biệt với châu Á. Tây Ban Nha chính thức từ chối chấp thuận tên gọi
America trong suốt hai thế kỷ, nói rằng Colombo nên được tán dương, và các bản đồ cuối cùng của Waldseemüller, sau khi ông đã ngừng hợp tác với Ringmann, không bao gồm tên gọi đó; tuy nhiên, việc sử dụng lại bắt đầu khi
Gerardus Mercator áp dụng tên gọi này cho bản đồ Thế giới Mới của ông năm 1538.
Bản đồ châu Mỹ của Jonghe, khoảng 1770
Nam Mỹ bị vỡ ra từ phần phía tây của
siêu lục địa Gondwanaland vào khoảng 135 triệu năm trước, tạo thành một lục địa riêng.
[22] Khoảng 15 triệu năm trước, sự va chạm của
mảng Caribe và
Mảng Thái Bình Dương dẫn đến sự nổi lên của hàng loạt các núi lửa dọc theo ranh giới giữa chúng và tạo ra các hòn đảo. Những kẽ hở của quần đảo tại
Trung Mỹ được lấp đầy từ vật liệu bị xói mòn đất của Nam Mỹ và Bắc Mỹ, cộng thêm vùng đất mới được tạo nên bởi hiện tượng núi lửa tiếp diễn. Khoảng 3 triệu năm trước, lục địa Bắc Mỹ và Nam Mỹ được nối với nhàu bằng
Eo đất Panama, do đó tạo nên một vùng đất châu Mỹ duy nhất.
[23]
-
Lục địa châu Mỹ có chiều bắc nam dài nhất trong số các châu lục. Khoảng cách từ hai cực của nó,
bán đảo Boothia ở phía bắc Canada và
Mũi Frowardtại
Patagonia của Chile là gần 14.000 km (8.700 mi).
[26]
Điểm cực tây của phần lục địa nằm trên
bán đảo Seward tại Alaska;
đảo Attu, xa hơn về phía tây bờ biển Alaska, được coi là cực tây của châu Mỹ.
Ponta do Seixasở Đông Bắc Brasil là điểm cực đông của lục địa,
[26] trong khi
Nordostrundingen tại Greenland, là điểm cực đông của toàn châu lục.
Các dãy núi có các đỉnh cao nhất là Andes và Rocky. Trong khi các đỉnh cao thuộc
Sierra Nevada và
Dãy Cascade, không có nhiều đỉnh cao trên 4.000 feet. Tại Bắc Mỹ, một lượng lớn dãy núi cao trên 14.00 ft (4.267,2 m) xuất hiện tại Hoa Kỳ và cụ thể là tiểu bang
Colorado. Đỉnh cao nhất của châu Mỹ nằm trên dãy
Andes,
Aconcagua thuộc
Argentina; tại Bắc Mỹ
Denali tại
Alaska là đỉnh cao nhất.
Đồng bằng châu thổ Mississippi
Lưu vực sông lớn nhất tại Nam Mỹ là
Amazon, đây cũng là hệ thống sông có dung tích dòng chảy lớn nhất thế giới.
[36] Hệ thống sông lớn thứ hai của Nam Mỹ là
sông Paraná, bao phủ một diện tích 2,5 triệu km².
[37]
Vùng Đông Nam của Bắc Mỳ thường xuất hiện nhiều cơn bão và lốc xoáy, trong đó phần lớn lốc xoáy xảy ra tại
thung lũng Tornado ở Hoa Kỳ.
[38] Nhiều khu vực tại Caribe cũng phải hứng chịu các ảnh hưởng từ bão. Các hình thế thời tiết này được tạo ra do sự va chạm của khối không khí khô và mát từ Canada và khối không khí ẩm và ấp từ Đại Tây Dương.
Nhân khẩu
Dân cư châu Mỹ nói chung có nguồn gốc từ 5 nhóm sắc tộc và 3 nhóm lai.
- Người bản địa châu Mỹ: Người da đỏ, Inuit, và Aleut.
- Gốc Châu Âu, chủ yếu là người Tây Ban Nha, người Anh, người Ireland, người Ý, người Bồ Đào Nha, người Pháp, người Ba Lan, người Đức, người Hà Lan, và người Scandinavia.
- Gốc da đen châu Phi, chủ yếu là từ Tây Phi.
- Người châu Á, bao gồm các nhóm Đông Á, Nam Á và Đông Nam Á.
- Những người có nguồn gốc từ Trung Đông
- Mestizo, lai giữa người Âu và da đỏ.
- Mulatto, lai giữa người Âu và người da đen.
- Zambo (tiếng Tây Ban Nha) hay Cafuso (tiếng Bồ Đào Nha), lai giữa người da đen và da đỏ.
Phần lớn cư dân sống tại
Mỹ Latinh chịu ảnh hưởng của các nền văn hóa Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha và tương phản với
Mỹ Anglo, nơi tiếng Anh, một ngôn ngữ German chiếm ưu thế.
Tôn giáo
Các đức tin lớn nhất tại châu Mỹ là:
-
- Không tôn giáo (bao gồm vô thần và người theo thuyết bất khả tri, cũng như những người tin vào các điều tâm linh song không phải là thành viên của các đoàn thể tôn giáo)
- Hồi giáo (khoảng 2% dân cư Canada [580.000 người][45] và 0,6% cư dân Hoa Kỳ [1.820.000 người[42]]). Argentina có một số lượng lớn dân cơ theo Hồi giáo với khoảng 600.000 người, hay 1,9%)[46]
- Do Thái giáo (khoảng 2% cư dân Bắc Mỹ, trong đó xấp xỉ 2,5% cư dân Hoa Kỳ và 1,2% dân cư Canada[47]—và 0,23% dân cư Mỹ Latinh—Argentina là nước co số người theo Do Thái giáo lớn nhất khu vực này với 200.000 người)[48]
Ngôn ng
Có nhiều ngôn ngữ được sử dụng tại châu Mỹ. Một số trong đó có nguồn gốc từ châu Âu, một số khác là ngôn ngữ bản địa hay pha trộn giữa nhiều ngôn ngữ khác nhau.
Ngôn ngữ chiếm ưu thế tại
Mỹ Latinh là
tiếng Tây Ban Nha, tuy vậy, đất nước lớn nhất Mỹ Latinh là
Brasil sử dụng
tiếng Bồ Đào Nha. Có một số vùng đất nhỏ sử dụng tiếng Pháp, Hà Lan và Anh tại Mỹ Latinh, tương ứng là
Guyane thuộc Pháp,
Suriname và
Belize,
Creole Haiti, một ngôn ngữ có nguồn gốc từ tiếng Pháp, chiếm ưu thế tại
Haiti. Các ngôn ngữ bản địa có ảnh hửng tại Mỹ Latinh hơn là tại Mỹ Anglo, với các ngôn ngữ thông dụng nhất là
Nahuatl,
Quechua,
Aymara và
Guaraní.
Các quốc gia
Guyana,
Suriname, và
Belize không được coi là thuộc Mỹ Anglo hay Mỹ Latinh do khác biệt về mặt ngôn ngữ với Mỹ Latinh và khác biệt về mặt địa lý với Mỹ Anglo, còn văn hóa và lịch sử thì khác biệt với cả hai khu vực; tiếng Anh là ngôn ngữ chính tại Guyana và Belize, và
tiếng Hà Lan là ngôn ngữ chính thức và ngôn ngữ văn bản tại Suriname.
- Tiếng Tây Ban Nha: được khoảng 310 triệu người nói tại khắp các quốc gia trên châu lục.
- Tiếng Anh: được khoảng 300 triệu người nói tại Hoa Kỳ, Canada, Jamaica, Trinidad và Tobago, Bahamas, Bermuda, Belize, Guyana, quần đảo Falkland và nhiều quốc đảo tại Caribe.
- Tiếng Bồ Đào Nha: được khoảng 185 triệu người nói tại Nam Mỹ, chủ yếu tại Brasil,[49]
- Tiếng Pháp: được khoảng 12 triệu người nói tại Canada (phần lớn trong số 7 triệu dân của Québec cùng các cộng đồng Acadian tại New Brunswick và Nova Scotia); Caribe (Haiti, Guadeloupe, Martinique); Guyane thuộc Pháp; các hòn đảo tộc Pháp như Saint Pierre và Miquelon; và Acadiana (khu vực Pháp ngữ tại nam Louisiana, Hoa Kỳ).
- Quechua: là ngôn ngữ bản địa của khoảng 10–13 triệu người tại Ecuador, Peru, Bolivia, bắc Chile, và tây bắc Argentina.[50]
- Creole Haiti: một ngôn ngữ dựa trên cơ sở tiếng Pháp và các ngôn ngữ châu Phi, trên 10 triệu người tại Haiti và những người Haiti hải ngoại tại Canada và Hoa Kỳ nói.[51]
- Guaraní (avañe'ẽ): ngôn ngữ bản địa của khoảng 6 triệu người tại Paraguay, và một số vùng tại Argentina, Bolivia, và Brazil.
- Tiếng Trung Quốc được ít nhất 5 triệu người sử dụng, chủ yếu tại Hoa Kỳ, Canada, Peru, Brasil và Panama.
- Tiếng Ý: được khoảng 4 triệu người nói, chủ yếu tại Argentina, Brasil, và vùng New England/Trung-Đại Tây Dương tại Hoa Kỳ.
- Tiếng Đức: Khoảng 2,2 triệu người. Trong đó, khoảng 1,1 triệu tại Hoa Kỳ.
- Tiếng Aymara: ngôn ngữ bản địa của khoảng 2,2 triệu người tại Bolivia, Peru và Chile.[52][53]
Hầu hết các ngôn ngữ phi bản địa, ở một mức độ nào đó, đã có sự biến đổi với ngôn ngữ tại quốc gia bắt nguồn, nhưng thường vẫn hiểu lẫn nhau. Tuy nhiên, có một số ngôn ngữ được kết hợp, và tại nên những thứ tiếng hoàn toàn mới, chẳng hạn như
Papiamento, một sự kết hợp giữa tiếng Bồ Đào Nha, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Hà Lan, tiếng bản địa của
người Arawak, các ngôn ngữ châu Phi và tiếng Anh.
Portuñol, pha trộn giữa tiếng Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha, được sử dụng ở khu vực biên giới giữa Brasil và các quốc gia nói tiếng Bồ Đào Nha láng giềng.
[54]
Vùng lãnh thổ
|
| |
| |
| |
Nguồn(https://vi.wikipedia.org)
|