Châu Á
Thuật ngữ Hy Lạp có lẽ có từ
Assuwa, liên minh của nhiều quốc gia vào
thế kỷ 14 TCN ở Anatolia cổ đại. Trong
tiếng Hittite assu- "tốt" có lẽ là một thành phần trong tên gọi này. Ngoài ra, ngôn từ cơ bản của thuật ngữ này có thể có nguồn gốc từ chữ
asu trong
tiếng Akkad, có nghĩa là "đi ra ngoài" hay "mọc", ám chỉ tới hướng của
Mặt Trời khi nó mọc ở
Trung Đông. So sánh giả thiết này với giả thiết về ngôn từ học của
châu Âu trong
tiếng Semit erebu "lặn" có thể thấy lý do đặt tên của Châu Á và
Châu Âu là sự tương phản với nhau, tương tự như các thuật ngữ
orient và
occident (tên gọi của
Anatolia và
Levant cũng là dấu hiệu của "mặt trời mọc"). Tuy được viện dẫn nhiều nhưng giả thuyết này bị phản đối do thực tế là Anatolia ở Akkad hoặc Semit nói chung không nằm ở phía đông.
Phép chiếu đồng khoảng cách 2 điểm của châu Á và các vùng đất xung quanh
Ranh giới giữa châu Á và châu Đại Dương được xem là thuộc
quần đảo Malay. Thuật ngữ Đông Nam Á và châu Đại Dương được tách ra vào thế kỷ 19 do có sự khác biệt lớn về ý mặt địa lý. Đặc điểm chính để xác định các đảo nào của quần đảo Malay thuộc châu Á là vị trí của quá trình thuộc địa hóa của nhiều đế chế khác nhau tại đây (không phải hoàn toàn từ châu Âu). Lewis và Wigen viết rằng "sự thu hẹp của 'Đông Nam châu Á' đến ranh giới hiện tại đã diễn ra từ từ."
[2]
-
Châu Á tự nó được phân chia thành các bộ phận khu vực như sau:
Thuật ngữ này ít được các nhà địa lý sử dụng, và thông thường nó được nhắc đến để chỉ phần châu Á lớn hơn của Nga, còn được biết đến như là
Siberi. Đôi khi các phần miền bắc của các quốc gia châu Á khác, như
Kazakhstan cũng được tính vào Bắc Á.
Không có sự nhất trí tuyệt đối trong sử dụng thuật ngữ này. Thông thường, Trung Á bao gồm:
Khu vực này bao gồm:
Nước
Malaysia bị chia thành hai phần qua
biển Đông và vì thế có cả hai phần: lục địa và hải đảo.
Cũng được gọi là
Trung Đông hay Trung Cận Đông.
Trung Đông thông thường cũng được sử dụng để chỉ một số quốc gia ở
Bắc Phi (trong một số diễn giải). Tây Nam Á có thể chia nhỏ thành:
- Anatolia (tức Tiểu Á), bao gồm phần châu Á của Thổ Nhĩ Kỳ.
- Quốc gia quần đảo Cyprus trong Địa Trung Hải.
- Levant hay Cận Đông bao gồm Syria, Israel, Jordan, Liban, Iraq và phần châu Á của Ai Cập.
- Bán đảo Ả Rập bao gồm Ả Rập Saudi, Các Tiểu Vương quốc Ả Rập Thống nhất, Bahrain, Qatar, Oman, Yemen và thỉnh thoảng là cả Kuwait.
- Khu vực Kavkaz bao gồm Armenia, một phần nhỏ của Nga và gần như toàn bộ Gruzia và Azerbaijan.
- Cao nguyên Iran bao gồm Iran và các phần của các quốc gia lân cận.
Trong thuật ngữ của
GDP theo
PPP thì nền kinh tế lớn nhất châu Á là
Trung Quốc, tuy nhiên nền kinh tế của
Liên minh châu Âu (viết tắt
EU, với một quốc gia của nó nằm ở châu Á là
Síp), mới là nền kinh tế lớn nhất thế giới. Địa vị của EU như là một thể chế siêu quốc gia, chứ không phải là một quốc gia thông thường, làm cho điều này nằm dưới câu hỏi; đặc biệt là khi so sánh đơn lẻ thì nền kinh tế của Síp là một trong những nền kinh tế nhỏ nhất ở cả EU và châu Á, và nó không lớn hơn nhiều lần so với nền kinh tế của Đông Timor, một quốc gia châu Á với nền kinh tế nhỏ nhất (mặc dù vào năm
2005 đã không có số liệu tin cậy cho cả Iraq và Bắc Triều Tiên). Trong những thập niên gần đây thì kinh tế Trung Quốc và Ấn Độ đã phát triển nhanh chóng, cả hai có tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm trên 6%. Theo GDP (PPP) thì Trung Quốc là nền kinh tế lớn thứ ba trên thế giới sau nền kinh tế của EU và Mỹ, tiếp theo là
Nhật Bản và
Ấn Độ với vị trí thứ tư và thứ năm (sau đó là các quốc gia trong EU:
Đức,
Anh Quốc,
Pháp và
Ý). Theo thuật ngữ của
tỷ giá hối đoái thì Nhật Bản lại là nền kinh tế lớn nhất ở châu Á và là thứ ba trên thế giới.
Hàn Quốc cũng là một trong những nền kinh tế lớn của châu Á, trong khi
Bắc Triều Tiên lại là một trong những nước nghèo nhất.
Các khối thương mại:
Các nguồn tài nguyên thiên nhiên[sửa | sửa mã nguồn]
Châu Á theo ranh giới (được cho là như thế) là lục địa lớn nhất
thế giới và nó rất giàu các nguồn tài nguyên thiên nhiên, như
dầu mỏ và
sắt.
Với năng suất cao trong
nông nghiệp, đặc biệt là trong sản xuất
lúa gạo, đã cho phép mật độ dân số cao của các quốc gia trong các khu vực nóng ẩm. Các sản phẩm nông nghiệp chính còn có
lúa mì và
thịt gà.
Lâm nghiệp cũng phát triển trong phạm vi rộng của châu Á, ngoại trừ khu vực Trung và Tây Nam Á.
Nghề cá là một nguồn chủ yếu cung cấp thực phẩm ở châu Á, cụ thể là ở Nhật Bản.
Sản xuất công nghiệp ở châu Á theo truyền thống là mạnh nhất ở khu vực Đông và Đông Nam Á, cụ thể là ở
Trung Quốc,
Đài Loan,
Nhật Bản,
Hàn Quốc và
Singapore. Các ngành nghề công nghiệp dao động từ sản xuất các mặt hàng rẻ tiền như
đồ chơi tới các mặt hàng công nghệ cao như
máy tính và
ô tô. Nhiều công ty ở
châu Âu,
Bắc Mỹ và
Nhật Bản có các sự hợp tác đáng kể ở châu Á đang phát triển để tận dụng các lợi thế so sánh về sức lao động rẻ tiền.
Một trong các lĩnh vực chính của sản xuất công nghiệp ở châu Á là công nghiệp
may mặc. Phần lớn việc cung cấp quần áo và giày dép hiện nay của thế giới có nguồn gốc từ Trung Quốc và khu vực Đông Nam Á.
Tài chính và các dịch vụ khác[sửa | sửa mã nguồn]
Châu Á có 3 trung tâm tài chính lớn. Chúng nằm ở
Hồng Kông,
Singapore và
Tokyo. Các trung tâm mới nổi ở
Ấn Độ hay
Trung Quốc là do sự bùng nổ về sản xuất công nghiệp theo hình thức
gia công ở các quốc gia này cũng như sự có được của nhiều người trẻ có học vấn cao và nói
tiếng Anh tốt.
Những vùng ngoại biên ven biển có thể coi như là quê hương của các nền văn minh, với mỗi nền văn minh trong ba khu vực này đã phát triển rất sớm quanh lưu vực các con sông màu mỡ. Các nền văn minh ở
Lưỡng Hà, lưu vực
sông Ấn và
Hoàng Hà chia sẻ nhiều điểm tương đồng và có lẽ đã trao đổi với nhau các ý tưởng và công nghệ chẳng hạn như toán học và
bánh xe. Các khái niệm khác như khái niệm về chữ viết có lẽ đã phát triển riêng biệt trong từng khu vực. Các thành thị, nhà nước và đế chế đã phát triển trong các vùng đất thấp này.
Khu vực thảo nguyên đã có thời gian dài là nơi sinh sống của các bộ lạc dân
cư miền núi, và từ các thảo nguyên trung tâm thì họ có thể đi tới tất cả các khu vực khác của châu Á. Sự mở rộng như thế ra ngoài các thảo nguyên sớm nhất được biết là của
người Ấn-Âu, những người đã truyền bá ngôn ngữ của mình tới Trung Đông, Ấn Độ và tới
người Tochari ở biên giới Trung Quốc. Phần phía bắc của châu Á, phần lớn là vùng
Siberi, đã là không thể đi tới được đối với những người dân du mục vùng thảo nguyên do mật độ dày của rừng cũng như các
lãnh nguyên. Các khu vực này có rất ít dân cư.
Khu vực trung tâm và ngoại biên đã bị cách biệt là do các dãy núi và các
sa mạc. Các dãy núi như
dãy Kavkaz,
dãy Himalaya hay
sa mạc Karakum và
sa mạc Gobitạo ra các cản trở chính làm cho những kỵ binh du mục rất khó khăn trong việc vượt qua chúng. Về mặt kỹ thuật và văn hóa thì những người sống ở các khu vực đồng bằng và đô thị là có ưu thế hơn nhưng về quân sự thì họ làm được ít hơn để bảo vệ khu vực sinh sống và chống lại các bộ lạc du cư miền núi. Tuy nhiên, các vùng đất thấp có rất ít đồng cỏ để duy trì một lượng lớn
ngựa. Vì thế các bộ lạc đã xâm lăng các quốc gia ở Trung Quốc, Ấn Độ và Trung Đông khi đó đã sớm phải học cách làm quen với sinh hoạt của cộng đồng địa phương.
Toàn bộ Ai Cập, Nga, Kazakhstan, Gruzia, Azerbaijan và Thổ Nhĩ Kỳ được nói đến trong bảng này, mặc dù các nước này chỉ có một phần nằm ở châu Á.
Các quốc gia và vùng lãnh thổ[sửa | sửa mã nguồn]
| Lịch sử dân số |
| Năm | Dân số | Tỉ lệ |
| 1500 | 243.000.000 | — |
| 1700 | 436.000.000 | +79.4% |
| 1900 | 947.000.000 | +117.2% |
| 1950 | 1.402.000.000 | +48.0% |
| 1999 | 3.634.000.000 | +159.2% |
| Nguồn: "UN report 2004 data" (PDF). |
Các tiểu vùng địa lý của châu Á
Cách phân vùng của Liên hiệp Quốc cho châu Á
Tên vùng[3] và
lãnh thổ cùng quốc kỳ | Diện tích
(km²) | Dân số
(Thống kê 1 tháng 7, 2008) | Mật độ dân số
(theo km²) | Thủ đô |
| Trung Á: |
Kazakhstan[4] | 2.724.900 | 15.666.533 | 5,7 | Astana |
Kyrgyzstan | 199.951 | 5.356.869 | 24,3 | Bishkek |
Tajikistan | 143.100 | 7.211.884 | 47,0 | Dushanbe |
Turkmenistan | 488.100 | 5.179.573 | 9,6 | Ashgabat |
Uzbekistan | 447.400 | 28.268.441 | 57,1 | Tashkent |
| Đông Á: |
Nhật Bản | 377.930 | 127.288.628 | 336,1 | Tokyo |
Mông Cổ | 1.564.100 | 2.996.082 | 1,7 | Ulaanbaatar |
Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên | 120.538 | 23.479.095 | 184,4 | Bình Nhưỡng |
Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa[5] | 9.596.961 hay 9.640.011 | 1.322.044.605 | 134,0 | Bắc Kinh |
Đài Loan [6] | 36.188 | 22.920.946 | 626,7 | Đài Bắc |
Hàn Quốc | 99.678 hay 100.210[7] | 49.232.844 | 490,7 | Seoul |
| Bắc Á: |
Nga[8] | 17.098.242 | 142.200.000 | 26,8 | Moskva |
| Đông Nam Á:[9] |
Brunei | 5.765 | 381.371 | 66,1 | Bandar Seri Begawan |
Myanma | 676.578 | 47.758.224 | 70,3 | Naypyidaw[10] |
Campuchia[11] | 181.035 | 13.388.910 | 74 | Phnôm Pênh |
Đông Timor[12] | 14.874 | 1.108.777 | 73,8 | Dili |
Indonesia[13] | 1.919.440 | 230.512.000 | 120,1 | Jakarta |
Lào | 236.800 | 6.677.534 | 28,2 | Viêng Chăn |
Malaysia | 330.803 | 27.780.000 | 84,2 | Kuala Lumpur |
Philippines | 300.000 | 92.681.453 | 308,9 | Manila |
Singapore | 704 | 4.608.167 | 6.545,7 | Singapore |
Thái Lan | 513.120 | 65.493.298 | 127,4 | Bangkok |
Việt Nam | 331.212 | hơn 90.000.000 dân(năm 2013) | 259,6 | Hà Nội |
| Nam Á: |
Afghanistan | 652.090 | 32.738.775 | 42,9 | Kabul |
Bangladesh | 147.998 | 153.546.901 | 1040,5 | Dhaka |
Bhutan | 38.394 | 682.321 | 17,8 | Thimphu |
Ấn Độ[14] | 3.201.446 hay 3.287.263[15] | 1.147.995.226 | 349,2 | New Delhi |
Maldives | 300 | 379.174 | 1.263,3 | Malé |
Nepal | 147.181 | 29.519.114 | 200,5 | Kathmandu |
Pakistan | 796.095 hay 801.912 [15] | 167.762.049 | 208,7 | Islamabad |
Sri Lanka | 65.610 | 21.128.773 | 322,0 | Sri Jayawardenepura Kotte |
| Tây Á: |
Armenia[16] | | | | Yerevan |
Azerbaijan[17] | 86.600 | 8.845.127 | 102,736 | Baku |
Bahrain | 750 | 718.306 | 987,1 | Manama |
Síp[18] | 9.251 | 792.604 | 83,9 | Nicosia |
Gruzia[19] | 69.700 | | 64,0 | Tbilisi |
Iraq | 438.371 | 28.221.181 | 54,9 | Baghdad |
Iran | 1.628.750 | 70.472.846 | 42,8 | Tehran |
Israel | 22.072 | 7.112.359 | 290,3 | Jerusalem[20] |
Jordan | 89.342 | 6.198.677 | 57,5 | Amman |
Kuwait | 17.818 | 2.596.561 | 118,5 | Thành phố Kuwait |
Liban | 10.452 | 3.971.941 | 353,6 | Beirut |
Oman | 309.500 | 3.311.640 | 12,8 | Muscat |
Palestine | 6.257 | 4.277.000 | 683,5 | Ramallah |
Qatar | 11.586 | 928.635 | 69,4 | Doha |
Ả Rập Saudi | 2.149.690 | 23.513.330 | 12,0 | Riyadh |
Syria | 185.180 | 19.747.586 | 92,6 | Damas |
Thổ Nhĩ Kỳ[21] | 783.562 | | | Ankara |
Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất | 83.600 | 4.621.399 | 29,5 | Abu Dhabi |
Yemen | 527.968 | 23.013.376 | 35,4 | Sanaá |
| Tổng cộng | 43.810,582 | 4.162.966.086 | 89,07 |
- Ghi chú: Một phần của Ai Cập (Bán đảo Sinai) thuộc về Tây Á về mặt địa lý.
Phần lớn dân số thế giới theo các niềm tin tôn giáo khởi nguồn từ châu Á.
Các tôn giáo lớn trên thế giới hầu hết đều khởi nguồn từ châu Á và với phần lớn những người theo ngày nay đang sống ở châu Á bao gồm:
- Baha'i giáo, khởi nguồn ở Israel vào giữa thế kỷ 19.
- Phật giáo, khởi nguồn ở Ấn Độ vào thế kỷ thứ 6 TCN.
- Ấn giáo, khởi nguồn ở Ấn Độ vào khoảng 1500 năm TCN.
- Hồi giáo, khởi nguồn ở Ả Rập Xê Út vào thế kỷ thứ 7 sau Công nguyên.
- Jaina giáo, khởi nguồn ở Ấn Độ vào thế kỷ thứ 6 TCN.
- Đạo Shinto, khởi nguồn ở Nhật Bản trước Công nguyên.
- Đạo Sikh, khởi nguồn ở Ấn Độ vào thế kỷ 15.
- Nho giáo, khởi nguồn ở Trung Quốc vào thế kỷ thứ 6 TCN.
- Đạo giáo, khởi nguồn ở Trung Quốc vào thế kỷ thứ 5 hoặc thế kỷ thứ 6 TCN.
- Hỏa giáo, khởi nguồn ở Iran khoảng hơn 1000 năm trước Công Nguyên.
- Cao Đài giáo, khởi nguồn ở Việt Nam vào năm 1926 của thế kỷ 20.
- Đạo Hòa Hảo, khởi nguồn ở Việt Nam vào năm 1939 của thế kỷ 20 và được xem là một nhánh của Tịnh Độ tông, Việt Nam.
- Kitô giáo, khởi nguồn ở Israel vào những năm đầu Công Nguyên. Sau này Kitô giáo bị phân rẽ ra thành ba nhánh chính: Công giáo Rôma, Chính Thống giáo Đông phương và Kháng Cách.
- Do Thái giáo, khởi nguồn ở Israel khoảng năm 2000 trước Công nguyên.