Home » » KHÁI QUÁT CHÂU Á

KHÁI QUÁT CHÂU Á

Châu Á
 Là châu lục lớn nhất vàĐại Kỷ Nguyên đông dân nhất thế giới nằm ở Bắc bán cầu và Đông bán cầu. Châu Á chiếm 8.6% tổng diện tích bề mặt Trái Đất (chiếm 29.9% diện tích mặt đất) và có 4 tỉ người, chiếm 60% dân số hiện nay của thế giới.
Sự phân chia ranh giới giữa châu Á và châu Phi là eo đất Suez (mặc dù bán đảo Sinai, 1 phần của Ai Cập, nằm vềphía đông của kênh đào này thông thường về mặt địa lý-chính trị được coi là 1 phần của châu Phi). Ranh giới giữa châu Á và châu Âu chạy qua eo biển Dardanellesbiển Marmaraeo biển Bosphorus, tới Biển Đendãy núi Kavkaz,Biển Caspi, dọc theo dãy núi Ural tới Biển Kara ở Kara, Nga.
Châu Á, khi được xem xét theo khía cạnh chính trị, bao gồm 1 phần của đại lục Á-Âu và các quần đảo gần kề trongẤn Độ Dương và Thái Bình Dương, và thông thường không bao gồm Nga. 1 số quốc gia châu Á có lãnh thổ vượt ra ngoài châu Á.

Tên gọi[sửa | sửa mã nguồn]Đại Kỷ Nguyên

Từ "Asia" lại bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp cổ đại Ασία (Asia; xem thêm Danh sách các địa chỉ truyền thống của người Hy Lạp), lần đầu tiên được chứng thực ở Herodotus, ở đó nó được nói đến như là Tiểu Á, hoặc trong các kết quả của các cuộc chiến tranh Ba Tư, đối với đế chế Ba Tư như là sự tương phản với Hy Lạp và Ai CậpHomer đã biết đồng minh của người Troia (Tờ roa) có tên gọi là Asios, con trai củaHyrtacus, một người cai trị nhiều thành thị.
Thuật ngữ Hy Lạp có lẽ có từ Assuwa, liên minh của nhiều quốc gia vào thế kỷ 14 TCN ở Anatolia cổ đại. Trong tiếng Hittite assu- "tốt" có lẽ là một thành phần trong tên gọi này. Ngoài ra, ngôn từ cơ bản của thuật ngữ này có thể có nguồn gốc từ chữ asu trong tiếng Akkad, có nghĩa là "đi ra ngoài" hay "mọc", ám chỉ tới hướng của Mặt Trời khi nó mọc ở Trung Đông. So sánh giả thiết này với giả thiết về ngôn từ học của châu Âu trong tiếng Semit erebu "lặn" có thể thấy lý do đặt tên của Châu Á và Châu Âu là sự tương phản với nhau, tương tự như các thuật ngữ orient và occident (tên gọi của Anatolia và Levant cũng là dấu hiệu của "mặt trời mọc"). Tuy được viện dẫn nhiều nhưng giả thuyết này bị phản đối do thực tế là Anatolia ở Akkad hoặc Semit nói chung không nằm ở phía đông.

Ranh giới[sửa | sửa mã nguồn]

Người Hy Lạp[sửa | sửa mã nguồn]


Phép chiếu đồng khoảng cách 2 điểm của châu Á và các vùng đất xung quanh
Người Hy Lạp cổ đại đã phân định ranh giới rõ ràng giữa châu Âu và châu Á, là biển AegeaDardanellesbiển MarmaraBosporusbiển Đeneo biển Kerch, và biển Azov. Sông Nile đã từng được sử dụng làm ranh giới giữa châu Á và châu Phi (lúc đó được gọi là Libya), mặc dù một số nhà địa lý Hy Lạp đề nghị ranh giới này làbiển Đỏ thì tốt hơn.[2]

Châu Á - châu Đại Dương[sửa | sửa mã nguồn]

Ranh giới giữa châu Á và châu Đại Dương được xem là thuộc quần đảo Malay. Thuật ngữ Đông Nam Á và châu Đại Dương được tách ra vào thế kỷ 19 do có sự khác biệt lớn về ý mặt địa lý. Đặc điểm chính để xác định các đảo nào của quần đảo Malay thuộc châu Á là vị trí của quá trình thuộc địa hóa của nhiều đế chế khác nhau tại đây (không phải hoàn toàn từ châu Âu). Lewis và Wigen viết rằng "sự thu hẹp của 'Đông Nam châu Á' đến ranh giới hiện tại đã diễn ra từ từ."[2]

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Địa lý châu Á
Châu Á tự nó được phân chia thành các bộ phận khu vực như sau:

Bắc Á[sửa | sửa mã nguồn]

Thuật ngữ này ít được các nhà địa lý sử dụng, và thông thường nó được nhắc đến để chỉ phần châu Á lớn hơn của Nga, còn được biết đến như là Siberi. Đôi khi các phần miền bắc của các quốc gia châu Á khác, như Kazakhstan cũng được tính vào Bắc Á.

Trung Á (Trung Đông)[sửa | sửa mã nguồn]

Không có sự nhất trí tuyệt đối trong sử dụng thuật ngữ này. Thông thường, Trung Á bao gồm:
Trung Á hiện nay là quan trọng về địa lý chính trị do các tranh chấp và mâu thuẫn quốc tế về các ống dẫn dầuNagorno-Karabakh và Chechnya cũng như là sự có mặt của quân đội Mỹ tại Afghanistan.

Đông Bắc Á/Đông Á[sửa | sửa mã nguồn]

Khu vực này bao gồm:

Đông Nam Á[sửa | sửa mã nguồn]

Khu vực này bao gồm bán đảo Mã LaiBán đảo Trung-Ấn và các đảo trong Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương. Các quốc gia nằm ở đây bao gồm:
Nước Malaysia bị chia thành hai phần qua biển Đông và vì thế có cả hai phần: lục địa và hải đảo.

Nam Á (tiểu lục địa Ấn Độ)[sửa | sửa mã nguồn]

Nam Á còn được nói đến như là tiểu lục địa Ấn Độ. Nó bao gồm:

Tây Nam Á (Tây Á)[sửa | sửa mã nguồn]

Cũng được gọi là Trung Đông hay Trung Cận Đông. Trung Đông thông thường cũng được sử dụng để chỉ một số quốc gia ở Bắc Phi (trong một số diễn giải). Tây Nam Á có thể chia nhỏ thành:

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chính: Kinh tế châu Á
Kinh tế châu Á
Năm 2003 nếu không có thông báo khác
Dân số:4.001 tỷ (2002)
GDP (PPP):US$ 18.077 tỷ
GDP (tiền tệ):$8.782 tỷ
GDP/đầu người (PPP):$4.518
GDP/đầu người (tiền tệ):$2.195
Tăng trưởng hàng năm
GDP theo đầu người:
Không rõ
Thu nhập của tốp 10%:Không rõ
Triệu phú:2,0 triệu (0,05%)
Thất nghiệpKhông rõ
Thu nhập của nữ
(ước tính)
Không rõ
Phần lớn số liệu là của UNDP năm 2002, một số số liệu đã loại bỏ một số quốc gia nào đó vì thiếu thông tin.
Xem thêm: Kinh tế thế giới - Kinh tế châu Phi - Kinh tế châu Á - Kinh tế châu Âu - Kinh tế Bắc Mỹ - Kinh tế Nam Mỹ - Kinh tế châu Đại Dương
Trong thuật ngữ của GDP theo PPP thì nền kinh tế lớn nhất châu Á là Trung Quốc, tuy nhiên nền kinh tế của Liên minh châu Âu (viết tắt EU, với một quốc gia của nó nằm ở châu Á là Síp), mới là nền kinh tế lớn nhất thế giới. Địa vị của EU như là một thể chế siêu quốc gia, chứ không phải là một quốc gia thông thường, làm cho điều này nằm dưới câu hỏi; đặc biệt là khi so sánh đơn lẻ thì nền kinh tế của Síp là một trong những nền kinh tế nhỏ nhất ở cả EU và châu Á, và nó không lớn hơn nhiều lần so với nền kinh tế của Đông Timor, một quốc gia châu Á với nền kinh tế nhỏ nhất (mặc dù vào năm 2005 đã không có số liệu tin cậy cho cả Iraq và Bắc Triều Tiên). Trong những thập niên gần đây thì kinh tế Trung Quốc và Ấn Độ đã phát triển nhanh chóng, cả hai có tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm trên 6%. Theo GDP (PPP) thì Trung Quốc là nền kinh tế lớn thứ ba trên thế giới sau nền kinh tế của EU và Mỹ, tiếp theo là Nhật Bản và Ấn Độ với vị trí thứ tư và thứ năm (sau đó là các quốc gia trong EU: Đức,Anh QuốcPháp và Ý). Theo thuật ngữ của tỷ giá hối đoái thì Nhật Bản lại là nền kinh tế lớn nhất ở châu Á và là thứ ba trên thế giới. Hàn Quốc cũng là một trong những nền kinh tế lớn của châu Á, trong khi Bắc Triều Tiên lại là một trong những nước nghèo nhất.
Các khối thương mại:

Các nguồn tài nguyên thiên nhiên[sửa | sửa mã nguồn]

Châu Á theo ranh giới (được cho là như thế) là lục địa lớn nhất thế giới và nó rất giàu các nguồn tài nguyên thiên nhiên, như dầu mỏ và sắt.
Với năng suất cao trong nông nghiệp, đặc biệt là trong sản xuất lúa gạo, đã cho phép mật độ dân số cao của các quốc gia trong các khu vực nóng ẩm. Các sản phẩm nông nghiệp chính còn có lúa mì và thịt gà.
Lâm nghiệp cũng phát triển trong phạm vi rộng của châu Á, ngoại trừ khu vực Trung và Tây Nam Á. Nghề cá là một nguồn chủ yếu cung cấp thực phẩm ở châu Á, cụ thể là ở Nhật Bản.

Công nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Sản xuất công nghiệp ở châu Á theo truyền thống là mạnh nhất ở khu vực Đông và Đông Nam Á, cụ thể là ở Trung QuốcĐài LoanNhật BảnHàn Quốc vàSingapore. Các ngành nghề công nghiệp dao động từ sản xuất các mặt hàng rẻ tiền như đồ chơi tới các mặt hàng công nghệ cao như máy tính và ô tô. Nhiều công ty ở châu ÂuBắc Mỹ và Nhật Bản có các sự hợp tác đáng kể ở châu Á đang phát triển để tận dụng các lợi thế so sánh về sức lao động rẻ tiền.
Một trong các lĩnh vực chính của sản xuất công nghiệp ở châu Á là công nghiệp may mặc. Phần lớn việc cung cấp quần áo và giày dép hiện nay của thế giới có nguồn gốc từ Trung Quốc và khu vực Đông Nam Á.

Tài chính và các dịch vụ khác[sửa | sửa mã nguồn]

Châu Á có 3 trung tâm tài chính lớn. Chúng nằm ở Hồng KôngSingapore và Tokyo. Các trung tâm mới nổi ở Ấn Độ hay Trung Quốc là do sự bùng nổ về sản xuất công nghiệp theo hình thức gia công ở các quốc gia này cũng như sự có được của nhiều người trẻ có học vấn cao và nói tiếng Anh tốt.

Lịch sử sơ kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chính: Lịch sử châu Á
Lịch sử châu Á có thể được xem xét như là các lịch sử riêng biệt của một số vùng ngoại biên ven biển như Đông ÁNam Á và Trung Đông được liên kết bằng các vùng thảo nguyên Á-Âu lớn bên trong.
Những vùng ngoại biên ven biển có thể coi như là quê hương của các nền văn minh, với mỗi nền văn minh trong ba khu vực này đã phát triển rất sớm quanh lưu vực các con sông màu mỡ. Các nền văn minh ở Lưỡng Hà, lưu vực sông Ấn và Hoàng Hà chia sẻ nhiều điểm tương đồng và có lẽ đã trao đổi với nhau các ý tưởng và công nghệ chẳng hạn như toán học và bánh xe. Các khái niệm khác như khái niệm về chữ viết có lẽ đã phát triển riêng biệt trong từng khu vực. Các thành thị, nhà nước và đế chế đã phát triển trong các vùng đất thấp này.
Khu vực thảo nguyên đã có thời gian dài là nơi sinh sống của các bộ lạc dân
cư miền núi, và từ các thảo nguyên trung tâm thì họ có thể đi tới tất cả các khu vực khác của châu Á. Sự mở rộng như thế ra ngoài các thảo nguyên sớm nhất được biết là của người Ấn-Âu, những người đã truyền bá ngôn ngữ của mình tới Trung Đông, Ấn Độ và tới người Tochari ở biên giới Trung Quốc. Phần phía bắc của châu Á, phần lớn là vùng Siberi, đã là không thể đi tới được đối với những người dân du mục vùng thảo nguyên do mật độ dày của rừng cũng như các lãnh nguyên. Các khu vực này có rất ít dân cư.
Khu vực trung tâm và ngoại biên đã bị cách biệt là do các dãy núi và các sa mạc. Các dãy núi như dãy Kavkazdãy Himalaya hay sa mạc Karakum và sa mạc Gobitạo ra các cản trở chính làm cho những kỵ binh du mục rất khó khăn trong việc vượt qua chúng. Về mặt kỹ thuật và văn hóa thì những người sống ở các khu vực đồng bằng và đô thị là có ưu thế hơn nhưng về quân sự thì họ làm được ít hơn để bảo vệ khu vực sinh sống và chống lại các bộ lạc du cư miền núi. Tuy nhiên, các vùng đất thấp có rất ít đồng cỏ để duy trì một lượng lớn ngựa. Vì thế các bộ lạc đã xâm lăng các quốc gia ở Trung Quốc, Ấn Độ và Trung Đông khi đó đã sớm phải học cách làm quen với sinh hoạt của cộng đồng địa phương.
Toàn bộ Ai Cập, Nga, Kazakhstan, Gruzia, Azerbaijan và Thổ Nhĩ Kỳ được nói đến trong bảng này, mặc dù các nước này chỉ có một phần nằm ở châu Á.

Các quốc gia và vùng lãnh thổ[sửa | sửa mã nguồn]

Lịch sử dân số
NămDân sốTỉ lệ
1500243.000.000—    
1700436.000.000+79.4%
1900947.000.000+117.2%
19501.402.000.000+48.0%
19993.634.000.000+159.2%
Nguồn: "UN report 2004 data" (PDF).
Tên vùng[3] và
lãnh thổ cùng quốc kỳ
Diện tích
(km²)
Dân số
(Thống kê 1 tháng 7, 2008)
Mật độ dân số
(theo km²)
Thủ đô
Trung Á:
 Kazakhstan[4]2.724.90015.666.5335,7Astana
 Kyrgyzstan199.9515.356.86924,3Bishkek
 Tajikistan143.1007.211.88447,0Dushanbe
 Turkmenistan488.1005.179.5739,6Ashgabat
 Uzbekistan447.40028.268.44157,1Tashkent
Đông Á:
 Nhật Bản377.930127.288.628336,1Tokyo
 Mông Cổ1.564.1002.996.0821,7Ulaanbaatar
 Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên120.53823.479.095184,4Bình Nhưỡng
 Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa[5]9.596.961 hay 9.640.0111.322.044.605134,0Bắc Kinh
 Đài Loan [6]36.18822.920.946626,7Đài Bắc
 Hàn Quốc99.678 hay 100.210[7]49.232.844490,7Seoul
Bắc Á:
 Nga[8]17.098.242142.200.00026,8Moskva
Đông Nam Á:[9]
 Brunei5.765381.37166,1Bandar Seri Begawan
 Myanma676.57847.758.22470,3Naypyidaw[10]
 Campuchia[11]181.03513.388.91074Phnôm Pênh
 Đông Timor[12]14.8741.108.77773,8Dili
 Indonesia[13]1.919.440230.512.000120,1Jakarta
 Lào236.8006.677.53428,2Viêng Chăn
 Malaysia330.80327.780.00084,2Kuala Lumpur
 Philippines300.00092.681.453308,9Manila
 Singapore7044.608.1676.545,7Singapore
 Thái Lan513.12065.493.298127,4Bangkok
 Việt Nam331.212hơn 90.000.000 dân(năm 2013)259,6Hà Nội
Nam Á:
 Afghanistan652.09032.738.77542,9Kabul
 Bangladesh147.998153.546.9011040,5Dhaka
 Bhutan38.394682.32117,8Thimphu
 Ấn Độ[14]3.201.446 hay 3.287.263[15]1.147.995.226349,2New Delhi
 Maldives300379.1741.263,3Malé
 Nepal147.18129.519.114200,5Kathmandu
 Pakistan796.095 hay 801.912 [15]167.762.049208,7Islamabad
 Sri Lanka65.61021.128.773322,0Sri Jayawardenepura Kotte
Tây Á:
 Armenia[16]Yerevan
 Azerbaijan[17]86.6008.845.127102,736Baku
 Bahrain750718.306987,1Manama
 Síp[18]9.251792.60483,9Nicosia
 Gruzia[19]69.70064,0Tbilisi
 Iraq438.37128.221.18154,9Baghdad
 Iran1.628.75070.472.84642,8Tehran
 Israel22.0727.112.359290,3Jerusalem[20]
 Jordan89.3426.198.67757,5Amman
 Kuwait17.8182.596.561118,5Thành phố Kuwait
 Liban10.4523.971.941353,6Beirut
 Oman309.5003.311.64012,8Muscat
 Palestine6.2574.277.000683,5Ramallah
 Qatar11.586928.63569,4Doha
 Ả Rập Saudi2.149.69023.513.33012,0Riyadh
 Syria185.18019.747.58692,6Damas
 Thổ Nhĩ Kỳ[21]783.562Ankara
 Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất83.6004.621.39929,5Abu Dhabi
 Yemen527.96823.013.37635,4Sanaá
Tổng cộng43.810,5824.162.966.08689,07
Ghi chú: Một phần của Ai Cập (Bán đảo Sinai) thuộc về Tây Á về mặt địa lý.

Tôn giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Phần lớn dân số thế giới theo các niềm tin tôn giáo khởi nguồn từ châu Á.
Các tôn giáo lớn trên thế giới hầu hết đều khởi nguồn từ châu Á và với phần lớn những người theo ngày nay đang sống ở châu Á bao gồm:

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chia sẻ :
Các tin khác

0 nhận xét :

Đăng nhận xét

Tin cho thuê mới

Lời khuyên

Hỏi - Ðáp

TƯ VẤN NỘI - NGOẠI THẤT

Tư vấn nội - ngoại thất từ chuyên gia
xuongchothue.com

Cho thuê nhà xưởng, kho xưởng ; mua bán nhà xưởng, mua bán nhà đất; cho thuê chung cư, căn hộ,...
Xuongchothue.com 1.000.000 tin mua bán và cho thuê nhà xưởng, kho xưởng, nhà đất tại Việt Nam. Chúng tôi liệt kê danh sách nhiều thông tin nhà đất nhất phục vụ mọi nhu cầu, từ phòng trọ tới biệt thự cao cấp. Bạn là nhà đầu tư hay gia đình cần nhà để ở? homelandaz.plogspot.com đều có thể giúp bạn. Tìm tin bán nhà đất hoặc cho thuê nhà đất mới nhất bằng cách sử dụng công cụ tìm kiếm hoặc các đường link ngay trên trang chủ.